KIẾN THỨC CHUNG VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ


 

I.   NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG BẢO HIỂM

1.   Định nghĩa về “bảo hiểm”

Định nghĩa 1: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh/rủi ro của số ít (hay còn gọi là số đông bù số ít).
Định nghĩa 2: Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp mà cá nhân hay tổ chức chấp nhận trả một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổ chức để đổi lấy những cam kết về khoản bồi thường/chi trả khi có sự kiện rủi ro xảy ra.

2.   Khái niệm rủi ro

“Rủi ro là sự kiện không chắc chắn có liên quan đến tổn thất phải gánh chịu trong tương lai”.
Ví dụ: Đối với con người: Tai nạn, ốm đau, tử vong,…
Nhà cửa, tài sản máy móc: cháy, nổ, sét đánh, động đất, lũ lụt,… Xe cơ giới: tai nạn giao thông, mất cắp,…

3.   Rủi ro được bảo hiểm và rủi ro loại  trừ

Bảo hiểm là một cách thức chuyển giao rủi ro sang công ty bảo hiểm. Tuy nhiên, không phải mọi rủi ro đều có thể được bảo hiểm. Chỉ những rủi ro ngẫu nhiên, không chắc chắn xảy ra, ngoài ý muốn chủ quan của người được bảo hiểm gây ra cho đối tượng bảo hiểm được xác định trong hợp đồng thì mới có thể được bảo hiểm.
3.1.   Rủi ro được bảo hiểm
Rủi ro được bảo hiểm là những sự cố dự tính mà nếu xảy ra và gây thiệt hại đến đối tượng được bảo hiểm sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm của Người bảo hiểm.
Rủi ro có thể được bảo hiểm được phân biệt căn cứ vào 2 khía cạnh:
Kỹ thuật nghiệp vụ:
+ Chỉ bảo hiểm cho những sự cố không lường trước đối với Người được bảo hiểm.
Ví dụ: Không bảo hiểm cho rủi ro mòn lốp xe ô tô, vì mòn lốp xe là chắc chắn xảy ra.
+ Người bảo hiểm chỉ được chấp nhận bảo hiểm cho những rủi ro mà hậu quả, tổn thất có thể quy được về mặt vật chất, lượng hoá thành tiền.
Ví dụ: Khi xảy ra tổn thất về người: chết hoặc thương tật toàn bộ vĩnh viễn thì bảo hiểm sẽ chi trả bằng tiền, căn cứ vào số tiền sẽ chi trả trên ghi trên hợp đồng bảo hiểm.
Tính pháp lý: phải đảm bảo không vi phạm pháp luật
Ví dụ: Không bảo hiểm cho rủi ro tai nạn giao thông do đua xe trái phép.
3.2.   Rủi ro loại trừ
Rủi ro loại trừ gồm những rủi ro dù có gây thiệt hại đến đối tượng bảo hiểm, Người bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm.
Về mặt nguyên tắc các rủi ro do hành vi vi phạm pháp luật (cố tình), rủi ro thảm hoạ, rủi ro chắc chắn,.. sẽ bị loại trừ. Đối với từng nghiệp vụ bảo hiểm cụ thể phần rủi ro loại trừ sẽ được liệt kê một cách cụ thể trong quy tắc, điều khoản bảo hiểm, đơn bảo hiểm,...


4.   Hợp đồng bảo hiểm

4.1.   Khái niệm hợp đồng bảo hiểm (Điều 12 Luật KDBH)
Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận hợp pháp bằng văn bản giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
4.2.   Các bên trong hợp đồng bảo hiểm
Bên bán bảo hiểm (Người bảo hiểm): Là các doanh nghiệp bảo hiểm được Nhà nước cho phép hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, trường hợp này là Bảo hiểm Bảo Long.
Bên mua bảo hiểm (Người tham gia bảo hiểm, Người được bảo hiểm): Có thể là cá nhân hoặc tổ chức có đầy đủ tư cách pháp nhân. Bên mua bảo hiểm gồm có các đối tượng liên quan sau:
Người mua bảo hiểm: Là cá nhân hoặc tổ chức có đối tượng bảo hiểm, đưa ra yêu cầu bảo hiểm, đóng phí bảo hiểm và ký kết hợp đồng bảo hiểm với Bảo hiểm Bảo Long.
Người được bảo hiểm: Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm.
Người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm: Là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm.
Người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm có thể là:
-         Người mua bảo hiểm.
-         Người được bảo hiểm
-         Do Người mua bảo hiểm chỉ định, ví dụ: ngân hàng
-         Người thừa kế hợp pháp.
4.3.   Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực khi người tham gia bảo hiểm đã thanh toán đầy đủ, đúng hạn theo qui định của hợp đồng bảo hiểm.

5.   Phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm là khoản tiền mà Người tham gia bảo hiểm phải thanh toán cho công ty bảo hiểm theo như đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm để nhận được sự cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi rủi ro xảy ra.
Phí bảo hiểm phải được thanh toán đầy đủ, đúng hạn theo qui định của hợp đồng bảo hiểm thì người được bảo hiểm đảm bảo đầy đủ quyền lợi khi xảy ra sự kiện bồi thường và chi trả bồi thường.
Đối với bảo hiểm phi nhân thọ, phí bảo hiểm thường được tính cho một năm. Tuy nhiên, nếu bên tham gia muốn tham gia ngắn hạn thì lựa chọn theo biểu phí ngắn hạn.
Phí bảo hiểm sẽ tuỳ theo mức độ rủi ro đối với đối tượng bảo hiểm. Thông thường phí bảo hiểm không thay đổi trong thời hạn bảo hiểm đã thoả thuận. Tuy nhiên, nếu khả năng gặp rủi ro cao hơn hoặc mong muốn được bảo hiểm với phạm vi rộng hơn thì có thể nộp phí bảo hiểm bổ sung hoặc ngược lại.
- Các sản phẩm bảo hiểm có thời hạn bảo hiểm 01 năm:


+   Bảo hiểm xe máy, ô
+    Bảo hiểm nhà tư nhân, bảo hiểm nhà chung cư, bảo hiểm tai nạn hộ sử dụng điện
+   Bảo hiểm học sinh sinh viên, giáo viên
+   Bảo hiểm sức khỏe, tai nạn con người
- Các sản phẩm bảo hiểm có thời hạn bảo hiểm > 01 năm:
+   Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt
+   Bảo hiểm trách nhiệm và gián đoạn kinh doanh
+   Bảo hiểm công trình
- Các sản phẩm bảo hiểm có thời hạn khác
+   Bảo hiểm vận chuyển hàng hóa: chuyến
+   Bảo hiểm hành khách, du lịch: chuyến, lượt

6.   Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm

6.1.   Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm: được sử dụng trong nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, đó là giá trị bằng tiền của tài sản. Giá trị bảo hiểm thường được tính bằng giá thị trường tại thời điểm tham gia của tài sản được bảo hiểm.
6.2.   Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là số tiền mà bên tham gia bảo hiểm yêu cầu và được thoả thuận ghi trong Đơn hoặc Giấy chứng nhận bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm là giới hạn trách nhiệm của Người bảo hiểm.
Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người, số tiền bảo  hiểm được ấn định tuỳ theo sự thoả thuận giữa hai bên. Thông thường, Người bảo hiểm đưa ra một số hạn mức trách nhiệm bảo hiểm khác nhau để Người tham gia bảo hiểm lựa chọn.
Trong bảo hiểm tài sản, việc thoả thuận số tiền bảo hiểm còn phải căn cứ vào giá trị bảo hiểm của tài sản đó. Nguyên tắc phổ biến là số tiền bảo hiểm không được vượt quá giá trị của tài sản được bảo hiểm. Trường hợp số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị của tài sản được bảo hiểm, khi có tổn thất bộ phận xảy ra sẽ được giải quyết theo tỷ lệ. Đây là điểm quan trọng mà người khai thác bảo hiểm phải chú ý khi chấp nhận và cấp Đơn hoặc Giấy chứng nhận bảo hiểm.

7.   Bảo hiểm trên và dưới giá trị

7.1.   Bảo hiểm trên giá trị
Hợp đồng bảo hiểm trên giá trị là hợp đồng trong đó số tiền bảo hiểm cao hơn giá trị bảo hiểm của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo hiểm.
Luật pháp quy định không được ký kết hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị nhằm chống những hành vi trục lợi bảo hiểm, đảm bảo sự công bằng cho những người tham gia bảo hiểm (trừ trường hợp bảo hiểm hàng hoá có thể bảo hiểm cao hơn giá mua 10%, do phần tăng thêm này được tính vào cước phí và lợi nhuận).


7.2.   Bảo hiểm dưới giá trị
Hợp đồng bảo hiểm dưới giá trị là hợp đồng trong đó số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo hiểm. Như vậy, Người tham gia bảo hiểm đã tự bảo hiểm lấy một phần giá trị tài sản của mình.
Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm dưới giá trị được ký kết thì công ty bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị của tài sản đó.
Ví dụ: Một chiếc xe ô tô có giá trị 1.000trđ, chủ xe tham gia bảo hiểm với số tiền bảo hiểm 800trđ. Trường hợp xảy ra tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm, chi phí sửa chữa 20 triệu đồng. Công ty bảo hiểm giải quyết bồi thường như sau: 20 x 800/1000 = 16 trđ.

8.   Mức miễn thường

Miễn thường có khấu trừ (còn gọi là Mức khấu trừ): Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ giải quyết bồi thường số tiền vượt mức khấu trừ quy định.
Ví dụ: Mức khấu trừ trong hợp đồng là 300.000 đ/vụ. Tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm là 750.000đ, vậy bảo hiểm bồi thường cho Người được bảo hiểm: 750.000 - 300.000 = 450.000đ.
Miễn thường không khấu trừ: Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường toàn bộ tổn thất khi mà giá trị tổn thất vượt trên mức miễn thường.
Ví dụ: Mức miễn thường không khấu trừ 300.000đ/vụ. Tổn thất từ 300.000đ trở xuống không được bồi thường.
Tổn thất trên 300.000đ được bồi thường và không bị khấu trừ 300.000đ.
Như ví dụ trên, tổn thất 750.000 đồng, bảo hiểm bồi thường toàn bộ 750.000 đồng (không khấu trừ 300.000 đồng).

9.   Bảo hiểm trùng

Bảo hiểm trùng là thuật ngữ dùng để chỉ trường hợp một đối tượng bảo hiểm được bảo hiểm bởi 2 hợp đồng bảo hiểm trở lên với tổng số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị tài sản và cùng điều kiện bảo hiểm.
Nếu bảo hiểm trùng tại cùng một hãng bảo hiểm, có thể hủy một hợp đồng bảo hiểm, nhưng nếu bảo hiểm tại hai hãng khác nhau, sẽ giải quyết bằng cách là mỗi hãng gách chịu 50%. Nếu xảy ra tổn thất, chủ hàng có thể đòi một hãng bồi thường toàn bộ hoặc đòi mỗi hãng bồi thường bồi thường một nửa. Nếu đòi toàn bộ ở một hãng bảo hiểm, chủ hàng phải ủy quyền cho hãng này đòi lại hãng kia một nửa.

10.   Đồng bảo hiểm

Khác với bảo hiểm trùng là do Người tham gia bảo hiểm chủ động tham gia bảo hiểm cho đối tượng với cùng một điều kiện, phạm vi bảo hiểm tại 2 hoặc nhiều hợp đồng bảo hiểm. Còn đồng bảo hiểm có thể do phía Người tham gia bảo hiểm nhưng cũng có thể do các công ty bảo hiểm chủ động cùng thoả thuận để nhận bảo hiểm một đối tượng bảo hiểm.

11.   Tái bảo hiểm

Khi nhận bảo hiểm cho các tài sản, trách nhiệm có giá trị lớn, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chia sẻ/phân tán rủi ro cho các doanh nghiệp bảo hiểm khác thông qua hình thức Tái


bảo hiểm. Việt Nam hiện có 02 công ty nhận tái bảo hiểm là Tổng công ty CP Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam và Công ty Tái bảo hiểm PVI (PVI Re).

12.   Tổn thất do hao mòn tự nhiên và bản chất của tài sản

Mọi tài sản trong quá trình sử dụng hoặc không sử dụng đều xảy ra sự hao mòn (hữu hình và vô hình) đó là sự hao mòn tự nhiên và tất yếu của mọi tài sản sẽ không thuộc trách nhiệm của Người bảo hiểm.
Cũng tương tự, những hư hỏng tổn thất của tài sản mà do bản chất của chính tài sản đó gây ra cũng không thuộc rủi ro được bảo hiểm, điều này luật và tập quán bảo hiểm đều loại trừ.
Ví dụ: Không bảo hiểm cho hao mòn lốp xe, nhiên liệu tiêu hao,..

13.   Bảo hiểm bắt buộc

Xuất phát từ mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội, mỗi quốc gia đã đưa ra những quy định bảo hiểm bắt buộc cho một số loại bảo hiểm như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm người vận chuyển hàng không đối với hành khách, bảo hiểm hoả hoạn…
Loại bảo hiểm bắt buộc do luật pháp quy định là các loại bảo hiểm mà Người tham gia bảo hiểm và Người bảo hiểm đều có nghĩa vụ phải thực hiện theo quy  định chung về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm tối thiểu do Nhà nước quy định.
Hiện nay ở nước ta, Luật kinh doanh bảo hiểm (Điều 8) quy định số loại hình bảo hiểm bắt buộc gồm:
+    Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới dành cho xe máy và xe ô tô
+    Bảo hiểm trách nhiệm dân sự người vận chuyển hàng không đối với hành khách.
+    Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật.
+    Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
+    Tài sản phải tham gia bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc gồm: Nhà, công trình kiến trúc và các trang thiết bị kèm theo; Máy móc thiết bị; hàng hoá, vật tư, tài sản khác.
+    Bảo hiểm xây dựng lắp đặt

II.   MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG BẢO HIỂM

Bảo hiểm hoạt động dựa trên số đông bù số ít, số đông càng lớn thì sẽ càng đảm bảo cho số ít khi xảy ra rủi ro/tai nạn/sự cố được bảo hiểm bồi hoàn đầy đủ đúng cam kết.
Ngoài ra, trong bảo hiểm có 05 nguyên tắc cơ bản nhất, là cơ sở và nền tảng của tất cả các sản phẩm bảo hiểm và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm:

1.   Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không chắc chắn (Fortuity not certainty)

Chỉ bảo hiểm một rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn và không lường trước được của con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra.

2.   Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (Utmost good faith)

Tất cả các giao dịch trong hợp đồng bảo hiểm cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối. Cả người được bảo hiểm và người bảo hiểm đều phải trung thực trong tất cả các vấn đề.


Hoạt động bảo hiểm thực chất việc bán lời cam kết của Nhà bảo hiểm đối với người tham gia bảo hiểm. Người tham gia là người đưa ra lời yêu cầu bảo hiểm cho mình, còn công ty bảo hiểm là người đưa ra lời cam kết chấp nhận bảo hiểm thông qua đơn bảo hiểm. Như vậy, có những trường hợp những thông tin hai bên đưa ra không chính xác làm phương hại đến quyền lợi của bên kia và ngược lại. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của hai bên, tránh việc trục lợi bảo hiểm cũng như việc công ty bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ của mình khi người tham gia gặp rủi ro, nguyên tắc trung thực tuyệt đối được áp dụng rộng rãi trong hoạt động bảo hiểm đối với cả người tham gia bảo hiểm và người bảo hiểm.
2.1.   Đối với Người tham gia bảo hiểm:
Đây là bổn phận khai báo đầy đủ và chính xác tất cả các yếu tố quan trọng có liên quan, dù được yêu cầu hay không được yêu cầu khai báo.
Một số yếu tố quan trọng trong các loại bảo hiểm:
-       Đối với bảo hiểm nhà: Nguyên vật liệu xây nhà là loại gì, thiết kế như thế nào, nhà được xây dựng ở đâu,...
-       Đối với bảo hiểm con người: độ tuổi, nghề nghiệp, tiền sử ốm đau của người được bảo hiểm, hồ sơ sức khoẻ của người trong gia đình,...
-       Đối với bảo hiểm ô tô: Thời gian đã sử dụng của xe, tuổi nghề lái xe, tiền sử tai nạn, giá trị xe,…
2.2.   Đối với Người bảo hiểm:
Doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cán bộ khai thác hoặc đại bảo hiểm phải trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm như quyền lợi được bảo hiểm, các điểm loại trừ, phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, giải thích điều khoản, giải đáp những thắc mắc cho Người tham gia bảo hiểm.

3.   Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (Insurable interest)

Nguyên tắc này chỉ ra rằng người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong  đối tượng bảo hiểm.
Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với người được bảo hiểm.
Trong bảo hiểm tài sản, Người mua bảo hiểm có một số liên hệ với đối tượng bảo hiểm được pháp luật công nhận.
Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự: quyền lợi bảo hiểm phải căn cứ theo quy định của luật pháp về ràng buộc trách nhiệm dân sự.
Ví dụ: Anh A có thể mua bảo hiểm xe cơ giới cho mình hoặc mua tặng bảo hiểm xe máy cho hàng xóm, người thân. Nhưng khi tổn thất xảy ra, thì người được nhận chi trả tiền bồi thường phải là người chủ sở hữu chiếc xe hoặc người thừa kế.

4.   Nguyên tắc bồi thường (Indemnity)

Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém (theo mức độ tham gia bảo hiểm). Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi.


Nguyên tắc bồi thường áp dụng phổ biến cho hai loại bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Nguyên tắc này thường không áp dụng đối các loại hình bảo hiểm con người.

Một số trường hợp cần lưu ý:

-         Trường hợp Người được bảo hiểm được nhận tiền chi trả cho một vụ tổn thất từ nhiều hợp đồng bảo hiểm khác nhau: tổng số tiền chi trả của tất cả các hợp đồng bảo hiểm sẽ không vượt quá giá trị tổn thất.
-         Trường hợp Người được bảo hiểm cũng được một bên thứ ba có trách nhiệm chi trả thiệt hại: Ví dụ như nhận tiền bồi thường từ người điều khiển ô tô đã đâm phải mình. Khi đó, tổng số tiền bồi thường của bên thứ ba và công ty bảo hiểm cũng không vượt quá giá trị tổn thất mà Người được bảo hiểm phải gánh chịu.

5.   Nguyên tắc thế quyền (Subrobgation)

Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba trách nhiệm bồi thường cho mình.
Để Người bảo hiểm thực hiện được quyền đòi người thứ ba, Người được bảo hiểm phải chú ý bảo lưu được quyền đòi bồi thường bằng văn bản thế quyền đòi bồi thường cho công ty bảo hiểm. Nếu Người được bảo hiểm không thực hiện được việc bảo lưu thì quyền lợi được bồi thường sẽ bị ảnh hưởng.

III.   CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ

1.   Căn cứ vào phương thức triển khai

Theo tiêu thức này, các nghiệp vụ bảo hiểm thành 2 nhóm:
1.1.   Hình thức bảo hiểm tự nguyện:
Bao gồm những nghiệp vụ bảo hiểm mà hợp đồng bảo hiểm được ký kết theo ý nguyện của bên được bảo hiểm hoàn toàn dựa trên nguyên tắc thoả thuận. Phần lớn các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ là bảo hiểm tự nguyện.
-       Bảo hiểm thiệt hại vật chất xe máy, xe ô
-       Bảo hiểm toàn diện học sinh, sinh viên, giáo viên
-       Bảo hiểm tai nạn hộ sử dụng điện, nhà tư nhân, nhà chung
-       Bảo hiểm vận chuyển hàng hóa
-       Bảo hiểm mọi rủi ro tài sản
-       Bảo hiểm tai nạn người lao động, tai nạn cá nhân, chăm sóc sức khỏe
-       Bảo hiểm du lịch trong nước và quốc tế
1.2.   Hình thức bảo hiểm bắt buộc:
Bao gồm những sản phẩm triển khai theo quy định của pháp luật và các bên buộc phải tham gia và tuân thủ liên quan đến hợp đồng bảo hiểm.
-       Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới dành cho xe máy và xe ô
-       Bảo hiểm trách nhiệm dân sự người vận chuyển hàng không đối với hành khách.
-       Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật.
-       Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.


-       Tài sản phải tham gia bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc gồm: Nhà, công trình kiến trúc và các trang thiết bị kèm theo; Máy móc thiết bị; hàng hoá, vật tư, tài sản khác.
-       Bảo hiểm xây dựng...

2.   Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm

Bảo hiểm phi nhân thọ căn cứ vào đối tượng bảo hiểm được chia làm 3 loại:
-         Bảo hiểm tài sản.
-         Bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
-         Bảo hiểm con người.
2.1.   Bảo hiểm tài sản:
Bảo hiểm tài sản là loại hình bảo hiểm bao gồm những nghiệp vụ có đối tượng là tài sản có thể tính được giá trị bằng tiền: Tòa nhà, công trình kiến trúc, nhà xưởng, máy móc thiết bị sản xuất, hàng hóa, xe cơ giới, phương tiện sản xuất...
2.2.   Bảo hiểm trách nhiệm dân sự:
Nghĩa vụ trách nhiệm dân sự thường có 2 loại:
-       Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng: Đây là trách nhiệm được xác định dựa trên cơ sở những thoả thuận dân sự giữa chủ thể này với chủ thể khác trong một hợp đồng. Những trách nhiệm này có thể được đưa ra trên cơ sở quy định của pháp luật hoặc là những thoả thuận riêng.
Ví dụ: Hợp đồng vận chuyển hàng hoá từ cảng A đến cảng B. Hợp đồng vận chuyển hành khách (vé là hợp đồng). Hợp đồng thuê thuyền viên làm việc trên tàu.
-       Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng: Việc phát sinh trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng và việc xác định dựa trên cơ sở quy định chung của pháp luật. Pháp luật thừa nhận và bảo hộ quyền bất khả xâm phạm về tài sản, sức khỏe, tính mạng, thân thể, danh dự, nhân phẩm và uy tín của mọi công dân. Vì vậy, pháp luật quy định mọi người phải có trách nhiệm chung không làm phương hại về tinh thần và vật chất của người khác. Trong trường hợp những hành vi trái với những quy định này thì người bị thiệt hại được pháp luật bảo vệ, có thể khiếu nại đòi bồi thường từ người gây thiệt hại.
Ví dụ: Lái xe ô tô đâm đổ nhà dân, đâm phải người đang đi trên hè phố. Do đóng cọc móng nhà làm rung nứt đổ nhà bên cạnh.
2.3.   Bảo hiểm con người:
Bảo hiểm con người là loại bảo hiểm có mục đích thanh toán những khoản trợ cấp, hoặc số tiền ấn định cho Người được bảo hiểm hoặc Người được hưởng quyền lợi trong trường hợp xảy ra rủi ro hoặc sự kiện tác động tới chính bản thân Người được bảo hiểm. Các loại hình bảo hiểm con người gồm:
-       Bảo hiểm sinh mạng
-       Bảo hiểm sức khỏe (ốm đau, bệnh tật, phẫu thuật, chi phí y tế...)
-       Bảo hiểm tai nạn (chết, ốm đau, bệnh tật, phẫu thuật, chi phí y tế...)

3.   Các đặc trưng cơ bản của bảo hiểm phi nhân thọ

Bảo hiểm phi nhân thọ có những đặc trưng cơ bản sau:


-   Thứ nhất: Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ là một hợp đồng ngắn hạn, thời hạn bảo hiểm thường là một năm hoặc ngắn hơn (trừ bảo hiểm xây dựng thì theo thời gian xây dựng, có thể kéo dài từ 1-3 năm)
-   Thứ hai: Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện được bảo hiểm theo nội dung hợp đồng đã ký kết xảy ra.
-   Thứ ba: Phí bảo hiểm phi nhân thọ được tính cho thời hạn bảo hiểm, thông thường phí tính cho từng năm bảo hiểm hoặc từng chuyến, hoặc từng dự án xây dựng. Phí bảo hiểm thường phụ thuộc vào mức độ rủi ro được bảo hiểm.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét